Rồi tự trả lời rằng, để đạt được mục tiêu đó thì vai trò của sản xuất trong nước và việc thu hút vốn FDI đóng một vai trò hết sức to lớn và cực kỳ quan trọng. Việt Nam muốn thu hút một lượng lớn nguồn FDI thì ngay từ bây giờ, cần phải có những quyết sách để dỡ bỏ các "thắt cổ chai" và vướng mắc của các nhà đầu tư.
Tính toán một cách đơn giản, nếu Việt Nam đạt được mức GDP bình quân đầu người bằng Thái Lan năm 1995 (1.834 USD), với giả định tốc độ tăng dân số là 1,3%/năm như hiện nay, thì Việt Nam phải đạt mức tăng trưởng là 8%/năm từ nay đến năm 2020. Mục tiêu này là khả thi vì Việt Nam đã đạt mức tăng trưởng GDP hơn 8% trong năm 2005 và năm 2006. Tuy nhiên, việc duy trì mức tăng trưởng cao trong hơn 10 năm tới hoặc hơn nữa lại là một thách thức to lớn đối với Việt Nam.
Lịch sử cho thấy, kể từ đầu những năm 1980, các nước Đông Nam Á đạt mức tăng trưởng cao nhưng chỉ duy nhất Singapore đạt trên 8% trong 15 năm liên tục. Việt Nam muốn làm được như Singapore cần phải nỗ lực rất nhiều. Bởi vì, bản chất của sự phát triển kinh tế Việt Nam phần lớn phụ thuộc vào sản xuất nguyên liệu thô và nông nghiệp. Trong những năm qua, xuất khẩu của Việt Nam tăng hơn 20% hàng năm, tuy nhiên vẫn chủ yếu là xuất tài nguyên thiên nhiên và nguyên liệu thô- những mặt hàng luôn bị ảnh hưởng bởi giá cả thế giới và mang lại giá trị gia tăng thấp.
Do đó, Việt Nam cần coi trọng vào phát triển khu vực sản xuất công nghiệp nhằm mang lại nhiều lợi ích cho nền kinh tế và tạo ra việc làm, mang lại giá trị gia tăng cao hơn. Đáng chú ý, sản xuất công nghiệp đang phát triển mạnh ở Việt Nam, nhưng lại chiếm một tỷ trọng nhỏ trong GDP, khoảng 20%. Theo một tính toán đơn giản khác, sản xuất công nghiệp của Việt Nam cần phải tăng trưởng 11,55% trong vòng 13 năm tới cho đến khi đạt tỷ trọng 30% của GDP. Nếu đạt được mức này thì cũng chỉ bằng Thái Lan vào năm 1995 mà thôi.
Đối với những "người đến sau" trong quá trình phát triển như Việt Nam, để phát triển hiệu quả nhất sản xuất công nghiệp trong nước là tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Bởi vì, nguồn vốn FDI sẽ giúp bù đắp sự thiếu hụt nguồn vốn đầu tư, tạo việc làm và mang lại công nghệ tiên tiến cho các ngành công nghiệp trong nước.
Thời gian qua, Việt Nam đã chứng minh tiềm năng to lớn của việc thu hút FDI. Nguồn vốn đầu tư FDI tăng nhanh chóng kể từ năm 2003. Đến năm 2006, Việt Nam đã thu hút được hơn 10 tỷ USD vốn FDI. Đây là mức cao nhất trong vòng 10 năm qua. Việc trở thành thành viên chính thức của WTO vào tháng 1/2007 chính là một nhân tố quan trọng góp phần thu hút vốn FDI trong thời gian tới.
Tuy nhiên, không thể chắc chắn được nguồn vốn FDI ồ ạt vào Việt Nam sẽ kéo dài được bao lâu. Viện nghiên cứu thuộc Ngân hàng Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JBIC) chỉ ra rằng, mặc dù các doanh nghiệp sản xuất Nhật Bản coi Việt Nam là một trong những quốc gia đầy hứa hẹn trong tương lai gần, nhưng đa số các doanh nghiệp Nhật đều lấy tiêu chí "nhân công rẻ" là một lợi thế để rót vốn đầu tư vào Việt Nam. Việt Nam sẽ nhanh chóng mất các lợi thế này sau khi trở thành một nước đang phát triển có thu nhập khá. Vậy thì lúc đó, lợi thế "nhân công rẻ" có còn hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài nữa không? Nếu không còn hấp dẫn nữa thì điều gì sẽ giữ chân các nhà đầu tư nước ngoài đến với Việt Nam? Đó phải chăng là luôn luôn phải cải thiện môi trường đầu tư và kinh doanh ở Việt Nam, mà chủ yếu là thuộc các lĩnh vực cơ sở hạ tầng, hệ thống pháp lý và điều hành của các cơ quan công quyền ở Việt Nam.
Và điều mang ý nghĩa "sống còn" là Việt Nam không nên để những thành tích đã đạt được trong thời gian qua làm lu mờ những thách thức ở phía trước. Rất nhiều bài học của các nước trong khu vực cũng như trên thế giới đã minh chứng rõ điều đó.
