Trong nông nghiệp, các tổ hợp tác tập trung vào các lĩnh vực: sản xuất cây, con giống, làm đất, thủy lợi, chăn nuôi, cây ăn quả, sinh vật cảnh... Các tổ hợp tác phi nông nghiệp tập trung vào các lĩnh vực: vận tải, cơ khí, mộc, đan lát, thương mại, tín dụng... Với quy mô nhỏ, gọn, các tổ hợp tác hoạt động có hiệu quả, đem lại lợi ích thiết thực, hỗ trợ tổ viên phát triển.
Tỉnh hiện có 452 HTX, trong đó có 302 HTX nông nghiệp (71,1%), 123 HTX phi nông nghiệp (28,9%), với 389.158 xã viên, bình quân có 916 xã viên/HTX. Các HTX nông nghiệp đã có nhiều chuyển biến tích cực, với tổng nguồn vốn trên 180 tỷ đồng, bình quân 600 triệu đồng/HTX. Nhiều HTX đã kiện toàn lại tổ chức, hoạt động ổn định, đảm bảo các khâu dịch vụ cho xã viên như: làm đất, tưới tiêu, cung ứng vật tư, giống, tiêu thụ sản phẩm... Xu thế HTX làm dịch vụ tổng hợp tiếp tục tăng. Các HTX đã đóng vai trò quan trọng trong việc tham gia các chương trình kinh tế- xã hội của địa phương như: đưa tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, kiên cố hoá kênh mương, tạo việc làm, tăng thu nhập cho xã viên và người lao động. Một số HTX tiếp tục phát triển dịch vụ tín dụng nội bộ và hoạt động có hiệu quả như: HTX nông nghiệp Hợp Thịnh (Tam Dương), HTX nông nghiệp Thượng Trưng (Vĩnh Tường), HTX nông nghiệp Vĩnh Đông (Yên Lạc)...
Các HTX đã khắc phục dần các mặt yếu kém, đã có sự liên doanh, liên kết giữa HTX với nhau và giữa HTX với các cơ quan nghiên cứu khoa học hoặc doanh nghiệp: HTX nông nghiệp Hợp Thịnh, Hoàng Lâu (Tam Dương), HTX Thạch Đà, Liễu Trì (Mê Linh), HTX Hội Hợp (Vĩnh Yên), HTX Thổ Tang, Thượng Trưng (Vĩnh Tường), HTX Nam Viêm (Phúc Yên)... Nhờ liên doanh, liên kết, các HTX đã tăng được nguồn vốn, đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, tạo việc làm và thu nhập cho HTX và xã viên, góp phần xoá đói giảm nghèo ở khu vực nông thôn.
Bên cạnh những thuận lợi, các HTX nông nghiệp vẫn còn một số khó khăn như: trình độ cán bộ HTX hạn chế, năng lực nội tại yếu, nhiều HTX chưa có đất làm trụ sở, thiếu vốn để mở rộng sản xuất- kinh doanh, cán bộ quản lý HTX chưa được đóng BHXH...
Các HTX phi nông nghiệp như giao thông vận tải, thương mại, điện, xây dựng, tiểu thủ công nghiệp phát triển khá (từ 48 HTX năm 2001 tăng lên 123 HTX đến tháng 11/2007). Do phần lớn mới thành lập, ít phải chịu những tồn tại hình thức của HTX kiểu cũ nên các HTX phi nông nghiệp hoạt động năng động hơn, các thành viên tự nguyện góp vốn, cùng tự chủ trong sản xuất kinh doanh, cùng hưởng lợi, tài chính công khai, tích cực tìm kiếm thị trường, sản phẩm ngày càng có uy tín. Đã xuất hiện nhiều HTX làm ăn hiệu quả cao như: HTX vật liệu xây dựng tuổi trẻ (Vĩnh Yên), doanh thu năm 2007 đạt trên 15 tỷ đồng, lợi nhuận gần 300 triệu đồng; giải quyết việc làm ổn định cho trên 100 lao động với mức thu nhập bình quân 1,3 triệu đồng/người/tháng. HTX giao thông vận tải Hoàng Việt (Vĩnh Yên) thành lập năm 2002 mới có 2 đầu xe, đến nay tăng lên 45 đầu xe, hàng năm vận chuyển hàng chục ngàn lượt khách; doanh thu mỗi năm đạt trên 3 tỷ đồng; tạo việc làm cho gần 100 lao động với mức lương 1,8 triệu đồng/người/tháng...
QTDND là mô hình hoạt động có hiệu quả, đều nhất trong năm 2007. Tỉnh hiện có 32 QTDND với trên 31.000 thành viên. Quy mô và chất lượng hoạt động của các quỹ đã tăng cả về số huy động, dư nợ cho vay, doanh thu, lợi nhuận và thu nhập của người lao động. Đa số các quỹ đã xây dựng được trụ sở làm việc, trang bị được máy tính, mua sắm trang thiết bị... nâng cao vị thế và thị phần hoạt động. Các quỹ đã góp phần tích cực vào xoá đói giảm nghèo, hạn chế nạn cho vay nặng lãi, tăng năng lực sản xuất kinh doanh, mở mang ngành nghề ở nông thôn. Một số quỹ có mức lãi suất cao như: QTDND thị trấn Yên Lạc, Tề Lỗ (Yên Lạc), Mê Linh...
Khó khăn của các QTDND là chưa có sự liên kết chặt chẽ trong hệ thống. Cơ sở vật chất phục vụ kinh doanh một số nơi còn lạc hậu, nợ đọng tồn tại chưa giải quyết dứt điểm. Môi trường pháp lý cho hoạt động còn chưa đồng bộ, việc cạnh tranh với các tổ chức tín dụng lớn ngày càng cao.
Năm 2007, giá trị tăng thêm do khu vực KTTT làm ra ước đạt 700 tỷ đồng; tỷ trọng giá trị gia tăng của khu vực KTTT so với toàn tỉnh chiếm 7,8%. Thu nhập của 1 xã viên HTX đạt 5,2 triệu đồng/năm, tổ hợp tác đạt 4 triệu đồng/năm. HTX khá giỏi đạt 54,6%, trung bình 34,8%, yếu 10,6%.
Để KTTT của tỉnh Vĩnh Phúc có bước phát triển vững chắc trong năm 2008 và những năm tiếp theo, cần có sự quan tâm và trách nhiệm hơn nữa của các cấp, các ngành trong tỉnh. Bản thân các HTX phải không ngừng chủ động, nắm bắt thời cơ, nâng cao năng lực và khả năng cạnh tranh.
