Trên 14 năm thành lập và hoạt động, Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương (QTDNDTW) đã thực sự tạo ra được một một hệ thống Quỹ cơ sở thành viên rộng khắp trên các tỉnh, thành cả nước với 1.033 QTDND cơ sở. Xây dựng tốt quan hệ liên kết 2 cấp, hoạt động của QTDNDTW đã thực sự gắn kết với địa bàn thông qua các QTDND cơ sở thành viên. Chức năng điều hòa vốn trong hệ thống cùng với sự chăm sóc và phát triển các thành viên đã thực sự khẳng định vai trò của QTDNDTW đối với toàn hệ thống. Những nhìn nhận về sự phát triển hệ thống của QTDNDTW cùng với sự đóng góp cùng với hệ thống tín dụng cả nước trong công cuộc phát triển kinh tế nhất là những thành phần kinh tế hộ, kinh doanh nhỏ và nông nghiệp nông thôn trong mục tiêu xóa đói giảm nghèo của toàn Đảng, toàn dân là điều không thể phủ nhận được.
Giao dịch khách hàng tại QTDND
Vân Canh (Hà Nội)
Vai trò của QTDNDTW là ưu tiên hỗ trợ
vốn cho các QTD cơ sở thành viên:
Thông
tư 06/2007/TT-NHNN, ngày 26/11/2007 của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam nêu
rõ: QTDNDTW cho vay vốn nhằm hỗ trợ, nâng cao hoạt động của các QTD cơ sở thành
viên; Việc cho vay các đối tượng khác do Điều lệ QTDNDTW quy định, trên cơ sở
đáp ứng nhu cầu vay vốn hợp lý của QTDND cơ sở thành viên. Như vậy, theo đúng
tinh thần chỉ đạo của Chính Phủ và Ngân hàng Nhà Nước thì nhiệm vụ quan trọng
ưu tiên hàng đầu cho QTDNDTW là công tác hỗ trợ cho vay vốn các QTDND cơ sở
thành viên. Để tạo điều kiện cho QTDNDTW thực hiện tốt nhiệm vụ trên, năm 2009
Thủ Tướng Chính Phủ đã phê duyệt hỗ trợ theo lộ trình tăng vốn là 500 tỷ đồng. Như
vậy, chỉ tính riêng nguồn vốn của Chính Phủ cấp cho QTDNDTW đã là 1.000 tỷ đồng.
Về phía NHNN cũng có chỉ đạo các ngân hàng thương mại thành viên hỗ trợ nguồn
vốn cho hoạt động của QTDNDTW. Theo kết quả kinh doanh 6 tháng đầu năm 2009 mà
Hội đồng Quản trị của QTDNDTW đã thông qua ngày 1/8/2009 thì tổng dư nợ đạt 6.562,022 tỷ đồng. Trong đó: dư nợ trong hệ
thống đạt 2.724,628 tỷ đồng, chỉ chiếm 41% tổng dự nợ và 35,8% tổng nguồn vốn.
Dư nợ cho vay ngoài hệ thống đạt 3.837,394 tỷ đồng, chiếm 58% tổng dư nợ, chiếm
51,5% tổng nguồn vốn. Cũng theo báo cáo này con số đầu tư tín phiếu, trái phiếu
tăng 9,995 tỷ đồng, tương ứng 979,9%, QTDNDTW đã đầu tư mua thêm 10 tỷ trái
phiếu Chính phủ. Với những con số trên việc phân bổ nguồn vốn và dư nợ đã có
những bất cập trong việc thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ nguồn vốn cho các quỹ cơ sở thành
viên. Có thể nói rằng ở đại đa số các QTDND cơ sở thành viên nguồn vốn hoạt
động còn rất hạn chế. Nhiều Quỹ hầu như nguồn vốn huy động không cân đối được
nhu cầu vay vốn của các thành viên. Trao đổi về vấn đề này ông Nguyễn Trung
Được, Trưởng văn phòng Hiệp hội Quỹ Tín dụng Hà Nội, giám đốc QTDND cơ sở Nhị
Khê (Thường Tín, Hà Nội) cho biết: “Nhu cầu về vốn của các hộ nông
Quỹ tín dụng
Nhân dân (QTDND) là một giải pháp quan trọng để góp phần đáp ứng nhu cầu vốn
phục vụ phát triển kinh tế - Xã hội ở khu vực nông nghiệp và Nông thôn; QTDND là
loại tổ chức tín dụng hợp tác, hoạt động theo Luật các tổ chức tín dụng và Luật
Hợp tác xã, theo nguyên tắc tự nguyện, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả
hoạt động, thực hiện mục tiêu chủ yếu là tương trợ giữa các thành viên, nhằm
phát huy sức mạnh tập thể và từng thành viên giúp nhau thự hiện có hiệu quả hơn
các hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ và cải thiện đời sống…Góp phần hạn
chế tình trạng cho vay nặng lãi ở nông thôn.
dân, của bà
con làng nghề rất lớn. Trong thời điểm hiện nay, để duy trì sản xuất họ chỉ cần
một số vốn rất nhỏ, nhưng kể cả những thành viên của Quỹ chúng tôi cũng chưa
đáp ứng nổi. Nguồn vốn của Quỹ luôn trong tình trạng thiếu hụt, bởi nếu chỉ dựa
vào vốn huy động thì chúng tôi không thể cạnh tranh được với các ngân hàng
thương mại trên địa bàn. Chúng tôi cũng đã làm đề xuất với NHNN, Quỹ trung ương
nhưng cũng chưa được hỗ trợ bất cứ nguồn vốn nào”. Việc bảo đảm hoạt động kinh
doanh và an toàn nguồn vốn của QTDNDTW như bất cứ tổ chức tín dụng nào cũng là
rất quan trọng, nên ngay từ khi mô hình thí điểm thành lập các QTDND, Đảng, Chính
Phủ và ngành ngân hàng đã xác định nhiệm vụ chính trị hàng đầu là hỗ trợ nguồn
vốn cho các hộ sản xuất kinh doanh nhỏ và đặc biệt là bà con nông dân ở nông
thôn. Ngay trong Thông tư 06/2007/TT-NHNN cũng nêu rõ: Tổng dư nợ cho vay các
đối tượng khác tối đa không quá 50% tổng nguồn vốn hoạt động bình quân các quý
trong năm của QTDNDTW. Trong tình
trạng hiện nay thì việc sản xuất kinh doanh của những đối tượng là cơ sở thành
viên của Quỹ cũng chịu ảnh hưởng của cơn lốc suy thoái kinh tế, hơn bao giờ hết
họ phải là những đối tượng cần được sự hỗ trợ tối đa từ những tổ chức tín dụng
mà bản thân họ là thành viên. Phân tích
từ những con số tăng trưởng trong việc QTDNDTW đầu tư vào tín phiếu và trái
phiếu Chính Phủ thì rõ ràng đây là một sự đầu tư chưa hợp lý. Về vấn đề này,
Tiến Sĩ Lê Xuân Nghĩa, Phó chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia cho biết: Chính phủ và ngành Ngân hàng ưu tiên cấp vốn và bổ
sung hằng kỳ cho QTDNDTW nhằm hỗ trợ tốt hơn cho các thành viên thì việc đầu tư
mua lại trái phiếu Chính Phủ là điều không nên khuyến khích.
Hệ thống QTDND cơ sở - thành viên trong
vai trò giải ngân gói kích cầu của Chính Phủ:
Nông dân và các hộ sản xuất và kinh doanh nhỏ, đối
tượng chính của QTDND cơ sở
Trong cơn khủng hoảng suy thoái kinh tế vừa qua, Chính Phủ đã kịp thời đưa ra gói cứu trợ và ngành ngân hàng, trong đó có cả QTDNDTW đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giải ngân đến từng doanh nghiệp, đúng đối tượng hỗ trợ. Gói cứu trợ đợt 1 của Chính Phủ đã thực sự phát huy tác dụng, giúp cho nền kinh tế Việt Nam vượt qua cơn khủng hoảng. Nhiều doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh nhờ đồng vốn hỗ trợ đã thoát khỏi tình trạng phá sản và đang dần hồi phục. Tuy nhiên một bộ phận không ít bà con nông dân và các hộ sản xuất, kinh doanh nhỏ đã thực sự khó khăn chồng chất khó khăn. Chính Phủ hiện đang giao cho các bộ, ngành và tham vấn các chuyên gia nước ngoài nghiên cứu đưa ra gói cứu trợ thứ 2 hoặc kéo dài gói cứu trợ thứ nhất nhắm trực tiếp vào các đối tượng là những vùng nông thôn và nông dân nghèo. Với ưu thể có hệ thống cơ sở rộng khắp và các đối tượng thành viên đa số là nông dân nghèo, QTDNDTW thực sự sẽ là một kênh giải ngân hữu hiệu cho các đối tượng hộ nông dân và các hộ sản xuất, kinh doanh nhỏ. Theo sơ kết kết quả hoạt động 6 tháng đầu năm 2009 của QTDNDTW thì tổng nợ xấu chiếm 2,4% dự nợ. Trong đó, nợ xấu trong hệ thống chỉ chiếm 0,09% còn ngoài hệ thống chiếm 2,3%. Qua con số trên, rõ ràng năng lực thẩm định và quản lý vốn của các QTDND cơ sở thành viên cũng rất tốt. Tuy nhiên để nâng cao năng lực quản lý và trình độ nghiệp vụ của các QTDND cơ sở thành viên thì QTDNDTW và hiệp hội QTDND Việt Nam cần phải nêu cao vai trò hỗ trợ hoạt động của Quỹ cơ sở thành viên trong việc đào tạo năng lực cho cán bộ, nâng cao hiệu quả hoạt động của các QTDND cơ sở thành viên. Các đối tượng vay của QTDND thường có quan hệ thành viên với quỹ và những khoản vay của họ cũng là những khoản nhỏ, phù hợp với năng lực thẩm định của các quỹ cơ sở thành viên.
Với những yếu tố trên, Chính Phủ, Quốc hội và NHNN nên xem xét đưa hệ thống Quỹ TDND cơ sở thành viên vào danh sách những tổ chức tín dụng giải ngân nguồn vốn hỗ trợ của Chính Phủ cho các đối tượng là hộ nông dân và các hộ sản xuất và kinh doanh nhỏ. Bản thân QTDNDTW cũng cần có sự sàng lọc, lựa chọn những QTD cơ sở thành viên nào có hoạt động tốt và đủ năng lực để nhận nguồn vốn hỗ trợ, nếu làm tốt được việc này chắc chắn đồng vốn hỗ trợ sẽ kịp thời đến với đúng đối tường và phát huy tác dụng giúp cho các hộ sản xuất nông nghiệp và kinh doanh nhỏ vượt qua được khó khăn trong khủng hoảng và thiên tai.
P.V
