Thứ năm ngày 5 tháng 11 năm 2009
  • Nhiều chính sách đối với lao động nữ khó khả thi - Vì sao?
  • Bộ luật Lao động được Quốc hội thông qua ngày 23/6/1994 đã dành riêng chương X (Những quy định riêng dối với lao động nữ) qui định về chính sách đối với lao động nữ, quyền của lao động nữ và trách nhiệm của người sử dụng lao động. Tuy nhiên sau 14 năm thực hiện, trong thực tế, một số chính sách liên quan tới lao động nữ được đề ra với những ý định rất tốt đẹp và mục tiêu khá lý tưởng, nhưng lại chưa phù hợp với thực tiễn hoặc thiếu các biện pháp cụ thể nên không thực hiện được.

    Theo báo cáo kết quả khảo sát mới đây của Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam về tình hình thực hiện chế độ chính sách đối với lao động khu vực ngoài quốc doanh thì 76% lao động nữ được khảo sát trả lời có làm thêm giờ. Tình trạng phải làm thêm giờ của lao động nữ là do áp lực về thời gian giao nộp sản phẩm theo hợp đồng, bên cạnh đó định mức khoán quá cao và đơn giá sản phẩm thì quá thấp. Muốn nhận được đủ đủ lương khoán lao động nữ đã phải tự nguyện ở lại doanh nghiệp làm thêm giờ thêm ca cho đảm bảo định mức. Nếu không đảm bảo đủ định mức thì sẽ không được doanh nghiệp chi tiền thưởng định mức. Đối chiếu với Điều 69 Bộ luật Lao động quy định: "Người sử dụng lao động và người lao động có thể thỏa thuận làm thêm giờ, nhưng không quá 4 giờ trong một ngày, 200 giờ trong một năm, trừ một số trường hợp đặc biệt được làm thêm không được quá 300 giờ trong một năm do Chính phủ quy định, sau khi tham khảo ý kiến của Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam và đại diện của người sử dụng lao động", thì các doanh nghiệp khảo sát đều vi phạm về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi.

    Khoản 3 Điều 39 Bộ luật Lao động có quy định người sử dụng lao động không được đơn phương chấm dứt lao động trong trường hợp "người lao động là nữ trong các trường hợp quy định tại khoản 3, Điều 111 Bộ luật Lao động". Khoản 3 Điều 111, qui định: "Người sử dụng lao động không được sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động nữ vì lý do kết hôn, có thai, nghỉ thai sản nuôi con dưới 12 tháng tuổi trừ trường hợp doanh nghiệp chấm dứt hoạt động". Tuy nhiên, khi thực hiện đã nảy sinh một vấn đề: Trong trường hợp người lao động nữ mang thai, nuôi con dưới 12 tháng tuổi thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng, bị xử lý kỷ luật sa thải theo quy định tại điểm a.b khoản 1 Điều 38 Bộ luật Lao động về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động, thì người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không? Người sử dụng lao động nếu thực hiện điểm a.b khoản 1 Điều 38 sẽ trái với khoản 3 Điều 111 Bộ luật Lao động.

    Khoản 3, Điều 6 Nghị định 23/CP ngày 18/4/1996 hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động vể chính sách lao động nữ cho phép doanh nghiệp được ưu tiên sử dụng một phần trong tổng số vốn đầu tư hàng năm để chi cho việc cải thiện điều kiện làm việc cho lao động nữ. Trong điều kiện thiếu vốn trầm trọng như hiện nay, quy định này không có khả năng thực thi.

    Cũng theo kết quả khảo sát của Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam, hiện nay hơn 50% doanh nghiệp không có buồng tắm riêng, chỗ thay quần áo cho lao động nữ; 56% lao động nữ được khảo sát cho biết phải làm việc trong môi trường có tiếng ồn, rung và nóng bức rung và nóng bức. Đặc biệt vẫn còn 12,9% đang làm những công việc nặng nhọc, trong đó có những công việc cấm lao động nữ. Nhiều công nhân nữ rất bức xúc vì những điều kiện tối thiểu nhất như nhà vệ sinh, buồng thay quần áo, nhà tắm dành cho nữ rất nhiều thiếu thốn, thiếu nước sạch.      

    Trong khu vực KTTT, nhiều HTX có đông lao động nữ hoạt động khá tốt, góp phần tạo ra nhiều sản phẩm và dịch vụ xã hội. Điển hình như HTX thêu may xuất khẩu và dịch vụ Long Xuyên (An Giang) hiện có 54 xã viên, trong đó 46 xã viên là lao động nữ, chủ yếu là chị em người dân tộc Chăm. HTX sơn khảm Ngọ Hạ (Chuyên Mỹ, Phú Xuyên, Hà Nội) có 45 xã viên, chỉ có 5 xã viên là nam, đã tổ chức dạy nghề cho trẻ em khuyết tật, con em thương binh, liệt sĩ con em các gia đình hoàn cảnh khó khăn. Tại HTX Mây tre lá Ba Nhất (TP.HCM), 90% lao động là phụ nữ... Các HTX này đều làm ăn có hiệu quả, giải quyết công ăn việc làm, tạo nguồn thu nhập tương đối ổn định cho phụ nữ, đóng góp tích cực vào việc thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo, chương trình quốc gia giải quyết việc làm.

    Mặc dù phụ nữ tham gia lao động trong các HTX ngày càng nhiều, song họ vẫn phải đối mặt với những hạn chế về kỹ năng, ít được đào tạo nghề và đầu tư cho hướng nghiệp lâu dài. Hầu như các HTX có đông lao động nữ chưa được vay vốn với lãi suất thấp hay được hỗ trợ kinh phí từ quỹ quốc gia giải quyết việc làm và chưa được miễn giảm thuế theo quy định của Nhà nước. Chỉ có một số ít HTX sử dụng quỹ của HTX vào cải thiện điều kiện làm việc và an toàn vệ sinh cho lao động nữ. Bên cạnh đó, đa số lao động nữ nói chung và trong khu vực HTX chưa có kiến thức về vệ sinh an toàn lao động, chưa nhận rõ quyền lợi của phụ nữ và các chính sách ưu đãi cho các đơn vị sản xuất kinh doanh có nhiều lao động nữ. Do vậy quá trình triển khai thực hiện các chính sách đối với lao động nữ còn hạn chế.

    Đáng chú ý, Bộ luật Lao động có hiệu lực từ 1/1/1995, song nghị định 23/CP hướng dẫn thi hành cho chương lao động nữ ngày 18/4/1996 mới ban hành và thông tư của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện nghị định 23/CP mãi tới ngày 6/11/1997 mới ban hành, quá chậm.

    Trong nền kinh tế thị trường, khi các chi phí sử dụng lao động nữ cao hơn so với lao động nam, nên dù Bộ luật Lao động qui định "ưu tiên tuyển lao động nữ", nhưng tâm lý chung của các doanh nghiệp là ngại tuyển lao động nữ (trừ một số nghề như dệt may, chế biến thực phẩm... yêu cầu người lao động phải tỷ mỷ, cẩn thận, kiên nhẫn). Có nhiều doanh nghiệp chỉ muốn tuyển dụng lao động trẻ để sa thải lao động nữ đã có tuổi, tay nghề thấp...

    Để chính sách, pháp luật đối với lao động nữ đi vào cuộc sống cần có những quy định khen thưởng, khuyến khích người sử dụng lao động trong việc tuyển chọn và sử dụng lao động nữ trong các ngành nghề khác nhau.                 

     Bộ LĐ- TB&XH cần phối hợp chặt chẽ với Liên minh HTX Việt Nam, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, các bộ, ngành liên quan đẩy mạnh công tác tuyên truyền các chính sách liên quan tới lao động nữ qua nhiều kênh khác nhau, để cả người sử dụng lao động lẫn lao động nữ nâng cao nhận thức về chính sách đối với lao động nữ.

    Cần tăng cường cho lao động nữ được vay vốn và phát triển sản xuất kinh doanh, giải quyết việc làm và thực hiện các chính sách ưu đãi tín dụng đối với các doanh nghiệp, trong đó có các HTX, có đông lao động nữ theo qui định của pháp luật.

    Đẩy mạnh hơn nữa công tác kiểm tra việc thực hiện chính sách đối với lao động nữ trong các doanh nghiệp có đông lao động nữ. Chính quyền địa phương, các tổ chức đoàn thể, tổ chức y tế... cần có những biện pháp chăm sóc sức khỏe, an toàn vệ sinh lao động cho lao động nữ.

    Đặc biệt, lao động nữ chiếm số đông trong tổng số lao động của nước ta hiện nay, việc hoàn thiện, bổ sung các qui định của pháp luật về lao động đối với lao động nữ phù hợp với thực tiễn là hết sức cần thiết.

    Ngọc Cầm

Tin liên quan
 
Thăm dò ý kiến
Quảng Cáo