Năm 2009, cả nước xuất khẩu 607.665 tấn cá tra, tổng kim ngạch trên 1,34 tỷ USD, giảm 5,2% về khối lượng và 6,7% về giá trị so với năm 2008.
Ngoài nguyên nhân chịu sự tác động mạnh từ suy giảm kinh tế thế giới, giá thức ăn luôn đứng ở mức cao, giá cá bấp bênh, thì một số thị trường xuất khẩu chính đã dựng lên nhiều rào cản thương mại, thậm chí tại một số nước đã xuất hiện các thông tin sai lệch về cá tra để làm hạn chế sự xâm nhập sản phẩm cá tra của Việt Nam.
TP Cần Thơ có diện tích và sản lượng cá tra lớn tại ĐBSCL, hiện có 30 nhà máy chế biến thủy sản xuất khẩu, trong đó 22 nhà máy trực tiếp chế biến, xuất khẩu cá tra, công suất khoảng 300.000 tấn nguyên liệu/năm. Năm 2009, sản lượng thủy sản xuất khẩu của thành phố đạt 161.500 tấn, tăng hơn 7,6% so với năm 2008, giá trị trên 423 triệu USD, tăng hơn 3,8% so với năm 2008. Tình hình sản xuất và tiêu thụ cá tra năm 2009 không ổn định, khiến người nuôi và DN đều lâm vào cảnh khó khăn. Giá cá tra nguyên liệu ở Cần Thơ dao động ở mức 13.500- 16.500 đồng/kg, trong khi giá thành nuôi tới 13.500- 15.000 đồng/kg, có nơi lên đến 16.000 đồng/kg. Nếu người nuôi liên kết với DN có khả năng lãi khoảng 1.000 đồng/kg, nếu không sẽ bị lỗ 1.000- 1.500 đồng/kg. Một số hộ nuôi riêng lẻ đã bỏ ao không còn khả năng tái đầu tư. Năm 2009, diện tích ao bỏ trống khoảng 30- 50%, do vậy, tình trạng thiếu nguyên liệu ở các nhà máy chế biến trong thời gian tới là điều khó tránh khỏi.
Ông Phạm Văn Quỳnh, Giám đốc Sở NN&PTNT TP. Cần Thơ, cho biết: Hiện TP. Cần Thơ đã có nhiều mô hình liên kết được thành lập giữa người nuôi và các DN chế biến thủy sản xuất khẩu như: Công ty Sahofood, Caseamex, MekongFish, HTX Thới An... nhưng việc nhân rộng mô hình liên kết để bảo đảm tính bền vững trong sản xuất, nuôi cá tra còn gặp không ít khó khăn. Trong nhiều năm qua, đã có các hợp đồng nguyên tắc bằng văn bản được ký kết giữa DN và người nuôi trên cơ sở "chữ tín" để tiêu thụ cá tra nhưng còn thiếu những điều khoản ràng buộc không chặt chẽ, nên xảy ra nhiều "nghịch cảnh" như: Khi cá nguyên liệu có giá, người nuôi thường tìm cách hủy hợp đồng và mang sản phẩm bán cho DN khác với giá cao hơn; ngược lại, giá cá xuống thấp, DN viện cớ kích cỡ cá không đạt, chất lượng kém để từ chối thu mua cho dân. Cung, cầu không ổn định, không chia sẻ được lợi ích chung cũng như rủi ro của các bên tham gia chuỗi giá trị sản xuất cá tra làm cho sự phát triển vùng nuôi trở nên kém bền vững. Thêm vào đó, cái khó hiện nay là chưa quản lý được giá thức ăn nuôi thủy sản, nên chưa giúp người nuôi giảm giá thành sản xuất. Để có thị trường ổn định, cần kiểm soát chặt chẽ hơn nữa ngay từ khâu sản xuất con giống đến vùng nuôi, đồng thời, tạo điều kiện cho người nuôi tiếp cận vốn ưu đãi. Mặt khác, tăng cường chỉ đạo sản xuất tiêu thụ cá tra thông qua hợp đồng theo tinh thần Quyết định 80/2002/QĐ- TTg và Chỉ thị 25/2008/CT- TTg của Thủ tướng Chính phủ về bao tiêu nông sản.
Theo kế hoạch, năm 2010, sản lượng cá tra ở ĐBSCL sẽ đạt 1,5 triệu tấn, xuất khẩu 600.000 tấn, giá trị kim ngạch khoảng 1,5 tỷ USD. Dự kiến, những tháng đầu năm 2010, sản lượng thu hoạch cá tra toàn vùng ĐBSCL khoảng 630.000 tấn, góp phần khắc phục tình trạng thiếu nguyên liệu sản xuất ở các nhà máy chế biến như hiện nay. Mặt khác, năm 2010, xuất khẩu thủy sản sẽ khả quan hơn năm 2009, do một số nền kinh tế lớn như: EU, Mỹ, Nhật Bản... đang trên đà phục hồi. Ngoài ra, Hiệp định Đối tác kinh tế Việt Nam- Nhật Bản (VJEPA) đã chính thức có hiệu lực, hàng nông sản, thủy sản của Việt Nam được hưởng ưu đãi rất lớn về thuế. Xuất khẩu thủy sản vào Mỹ sẽ tăng mạnh nếu các DN chú trọng xây dựng thương hiệu, đầu tư mới trang thiết bị, xây dựng hệ thống kho bãi hiện đại, đồng thời tập trung sản xuất những mặt hàng có chất lượng cao...
Tuy nhiên, năm 2010, xu hướng bảo hộ thương
mại, các rào cản kỹ thuật, kiểm dịch dư lượng chất kháng sinh và an toàn vệ
sinh thực phẩm tại các thị trường nhập khẩu sẽ tiếp tục là những trở ngại cho
DN Việt
Trong cuộc họp gần đây với lãnh đạo các tỉnh,
thành phố khu vực ĐBSCL, Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Cao Đức Phát nhấn mạnh: Cần
tuân thủ quy hoạch vùng nuôi cá tra, tập trung quản lý từ đầu vào đến đầu ra để
bảo đảm chất lượng sản phẩm đi vào thị trường khó tính, bảo đảm hài hòa lợi ích
giữa DN và người nuôi. Song song với việc nâng cao chất lượng sản phẩm để giữ
các thị trường truyền thống, các DN thủy sản Việt
Chính phủ đã đồng ý với kiến nghị của Bộ NN&PTNT về việc đưa sản phẩm cá tra vào nhóm sản phẩm chiến lược và giao Bộ NN&PTNT chủ trì, phối hợp với các cơ quan chức năng xây dựng các chính sách ưu đãi để phát triển bền vững sản phẩm cá tra. Đây tiếp tục sẽ là đòn bẩy để sản xuất, tiêu thụ cá tra vùng ĐBSCL phát triển ổn định và bền vững hơn trong thời gian tới.
Chiều Châu
