Đóng góp vào dự thảo Nghị định thay thế Nghị định 139/2007/NĐ-CP hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp, hầu hết các luật gia, doanh nghiệp đều cho rằng: Dự thảo có nhiều quy định mới mang tính đột phá giải thoát nhiều trường hợp bế tắc cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, vẫn có những hạn chế, chồng chéo, cần sửa đổi và đặc biệt có nhiều quy định trái luật.
Theo Luật gia Cao Bá Khoát- Công ty TNHH tư vấn doanh nghiệp K và Cộng sự, Khoản 5 Điều 104 Luật Doanh nghiệp quy định: “Trường hợp thông qua quyết định dưới hình thức lấy ý kiến bằng văn bản thì quyết định của Đại hội đồng cổ đông được thông qua nếu được số cổ đông đại diện ít nhất 75% tổng số phiếu biểu quyết chấp thuận; tỷ lệ cụ thể do Điều lệ công ty quy định”. Do vậy, cần giải thích rõ cơ sở để xác định 75% tổng số phiếu biểu quyết chấp thuận tại dự thảo là gì? 75% được tính dựa trên tổng số cổ phần phổ thông của công ty, tổng số cổ phần có quyền biểu quyết, tổng số cổ phần gửi về hay tổng số cổ phần gửi về hợp lệ?
Sở dĩ cần hướng dẫn cụ thể vấn đề trên vì có ý kiến cho rằng, Khoản 1 Điều 77 Luật Doanh nghiệp quy định “mỗi cổ phần phổ thông có một phiếu biểu quyết” nên 75% tổng số phiếu biểu quyết chấp thuận tức là 75% tổng số cổ phần phổ thông chấp thuận. Mặc dù biết rằng hiểu như thế là không hợp lý với tinh thần của Luật Doanh nghiệp nhưng rõ ràng những cách hiểu này là có cơ sở. Cho nên dự thảo cần giải thích rõ để các doanh nghiệp áp dụng cho đúng với tinh thần của Luật Doanh nghiệp.
Bổ sung ý kiến của của ông Khoát, TS Lê Nết,
luật sư thành viên Công ty luật LCT Lawyers, cho rằng: Điều 12.3.b quy định về việc
đầu tư thành lập doanh nghiệp tại Việt
Ngoài ra, nếu Điều 12.3.b áp dụng thì phải quy định, nếu nhà đầu tư nước ngoài chiếm không quá 49%, song sau này doanh nghiệp giảm vốn, hay nhà đầu tư nước ngoài mua thêm cổ phần dẫn đến tỉ lệ vốn cao hơn 49% thì có cần phải đăng ký đầu tư không? Nếu nhà đầu tư nước ngoài chiếm không quá 49% thì có áp dụng các hạn chế của WTO không (thí dụ thành lập công ty phân phối không được có quá một địa điểm kinh doanh, hay thành lập nhà hàng phải bao gồm đầu tư mở rộng dự án khách sạn). Nếu quy định không rõ sẽ dẫn đến tình trạng Nghị định sửa đổi mâu thuẫn với Nghị định 108 (sửa đổi) hoặc mâu thuẫn với cam kết WTO.
Một số ý kiến khác lưu ý: Điều 19.5 cho phép các thành viên còn lại mua tiếp của người góp không đủ vốn là tiền lệ nguy hiểm. Vì nó cho phép cổ đông đa số chèn ép và pha loãng cổ phiếu của cổ đông thiểu số. Hiện nay nhiều liên doanh do Nhà nước góp vốn với nước ngoài đang đứng trước nguy cơ này. Thí dụ,ï cổ đông thiểu số hiện nắm giữ 25% số cổ phần, vì lý do nào đó công ty tăng vốn, và cổ đổng thiểu số không góp vốn kịp thì họ sẽ nắm giữ dưới (thí dụ) 20% số cổ phần, mất quyền kiểm soát những nghị quyết quan trọng (phải trên 75% tổng số cổ phần biểu quyết chấp thuận) và sẽ bị cổ đông đa số chèn ép hơn nữa.
Các luật gia cũng lưu ý một số quy định trong dự thảo là trái với Luật Doanh nghiệp. Chẳng hạn, Điều 31.2 quy định: Trường hợp cuộc họp Hội đồng quản trị được triệu tập lần thứ hai, thì cuộc họp được tiến hành nếu có hơn một nửa số thành viên Hội đồng quản trị dự họp, là trái với Luật Doanh nghiệp. Vì Luật chỉ quy định việc triệu tập các cuộc họp lần thứ hai đối với họp Hội đồng thành viên và Đại hội đồng cổ đông, còn với Hội đồng quản trị, thì chỉ quy định một tỷ lệ dự họp hợp pháp là 75%. Còn Điều 37 quy định về việc chuyển đổi doanh nghiệp tư nhân thành công ty trách nhiệm hữu hạn cũng trái luật, vì Luật Doanh nghiệp chỉ quy định một số trường hợp chuyển đổi công ty, trong đó không có quy định về việc chuyển đổi doanh nghiệp tư nhân thành công ty trách nhiệm hữu hạn.
Hà Minh
