Luật Bảo hiểm y tế có hiệu lực từ ngày 1/7/2009, hướng đến mục tiêu BHYT toàn dân vào năm 2014. Đây là một cam kết mạnh mẽ của Chính phủ trong việc hỗ trợ toàn bộ hoặc một phần mức đóng BHYT đối với người nghèo, cận nghèo, người dân tộc thiểu số, hộ gia đình làm nghề nông, lâm, ngư, diêm nghiệp có mức sống trung bình trở xuống, đối tượng hưởng chính sách ưu đãi xã hội và trợ giúp xã hội.
Những năm qua, việc triển khai thực hiện các chính sách bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân, đặc biệt là chính sách BHYT đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Nếu năm 2001 mới có 16 triệu người tham gia BHYT (trong đó 12 triệu người tham gia BHYT bắt buộc và khoảng 4 triệu người tham gia BHYT tự nguyện), chiếm khoảng 20% dân số cả nước thì năm 2009 đã có 53,3 triệu người tham gia BHYT, chiếm trên 60% dân số cả nước.
Đặc biệt, Nhà nước đã thực hiện chương trình cấp thẻ BHYT miễn phí cho người nghèo, người dân tộc thiểu số sống ở vùng đặc biệt khó khăn, trẻ em dưới 6 tuổi và nhiều nhóm đối tượng dễ bị tổn thương khác; hỗ trợ một phần đáng kể phí đóng BHYT (50% phí đóng BHYT ở mức tối thiểu) cho người cận nghèo, học sinh sinh viên... Song song với các chương trình hỗ trợ phí tham gia BHYT, các chương trình tuyên truyền, truyền thông về lợi ích của BHYT đối với bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cộng đồng cũng được triển khai trên các phương tiện truyền thông, xuống từng địa phương, vào từng trường học. Kết quả là đã có 13,2 triệu người nghèo, gần 9,6 triệu học sinh, sinh viên tham gia BHYT.
Nguồn thu từ BHYT tăng nhanh do mở rộng đối tượng tham gia BHYT và có sự điều chỉnh tăng lương của Nhà nước. Số thu BHYT năm 2001 là 1.151 tỷ đồng và năm 2009 tăng lên khoảng 13.610 tỷ đồng.
Năm 2010, cả nước đã có 13.433 cơ sở y tế công lập với gần 200.000 giường bệnh; 74 bệnh viện tư nhân với 5.600 giường bệnh. Từ Trung ương đến các tỉnh, huyện đều có các cơ sở y tế làm công tác dự phòng. Người dân có BHYT nên giảm được một phần chi phí khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế khi bị ốm đau; hệ thống cơ sở khám chữa bệnh được mở rộng; đội ngũ cán bộ y tế được nâng cao về chất lượng; các tiến bộ khoa học kỹ thuật của y học thế giới nhanh chóng được đưa vào áp dụng... đã hỗ trợ tích cực vào công tác chăm sóc, bảo vệ sức khỏe người dân...
Tuy góp phần quan trọng vào công tác bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân nhưng chính sách BHYT hiện nay của nước ta vẫn còn một số bất cập và đang gặp nhiều thách thức do thay đổi cơ cấu dân số và diễn biến phức tạp của các loại bệnh mới, dịch mới phát sinh trong bối cảnh toàn cầu hóa và công nghiệp hóa.
Dấu hiệu già hóa dân số
bắt đầu xuất hiện. Một thập kỷ trước đây, số người già trên 60 tuổi chỉ chiếm
chưa đến 7% dân số thì nay đã chiếm khoảng 10% dân số và tỷ lệ này được dự báo
sẽ gia tăng nhanh trong những thập kỷ tới. Đây là một áp lực lớn về công tác
chăm sóc sức khỏe cho người dân nói chung và người cao tuổi nói riêng của hệ
thống y tế Việt
Các dạng bệnh đòi hỏi chi phí y tế cao như suy thận, tim... có xu hướng gia tăng làm tăng các khoản chi cho BHYT của cơ quan BHXH là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự mất cân đối của quỹ BHYT.
Nhận thức của người dân về lợi ích tham gia BHYT chưa cao trong khi công tác quản lý đối tượng tham gia BHYT vẫn còn lỏng lẻo. Tình trạng người dân chỉ mua BHYT khi đã biết mắc bệnh vẫn còn nhiều là nguyên nhân khác kìm hãm khả năng tăng trưởng của quỹ BHYT và nó triệt tiêu tính chia sẻ rủi ro về chi phí y tế giữa người bị ốm đau và người không bị ốm đau. Hậu quả là quỹ BHYT khó bền vững.
Hiện vẫn còn 40% dân số chưa tham gia BHYT và chúng ta vẫn chưa có giải pháp cụ thể để thu hút được nhóm dân cư này tham gia nhằm hướng đến mục tiêu BHYT toàn dân từ năm 2014 như Luật BHYT đã đề ra.
Thực tế chi tiêu từ quỹ khám chữa bệnh trong thời gian qua cho thấy mức chi tăng rất nhanh. Năm 2005, quỹ BHYT bội chi là 136,7 tỷ đồng; năm 2007 bội chi 1.600 tỷ đồng và năm 2009 bội chi khoảng 1.838 tỷ đồng.
Chất lượng chăm sóc y tế còn thấp, nhất là ở dưới tuyến cơ sở, ở các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Chi phí cho y tế của hộ nghèo, các nhóm dễ bị tổn thương vượt quá khả năng tài chính của hộ. Y tế cộng đồng bao gồm các biện pháp thúc đẩy lối sống lành mạnh, bảo vệ môi trường trong sạch, phát triển y tế dự phòng, chăm sóc sức khỏe ban đầu... chưa đáp ứng yêu cầu về bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cho mọi người dân.
Việc tăng cường tiếp cận của người nghèo đến BHYT kể cả khi có thẻ BHYT còn nhiều thách thức. Theo báo cáo của UNDP "Phân tích chung về Việt Nam", các vấn đề người nghèo đang phải đối mặt bao gồm: Chủ trương xã hội hóa các dịch vụ y tế chỉ giới hạn trong huy động nguồn lực tài chính để trang trải dịch vụ y tế; người dân phải bỏ tiền túi nhiều (so với thu nhập) cho các dịch vụ y tế; chi tiêu công cho y tế còn thấp, năm 2008 chỉ chiếm 13% trong tổng chi y tế; nhiều người nghèo không sử dụng thẻ BHYT khi đi khám chữa bệnh thông thường do các dịch vụ không sẵn có hoặc khó tiếp cận; chất lượng không cao, chi phí được thanh toán còn thấp...
Thực hiện BHYT toàn dân như Luật BHYT đã đề ra là giải pháp cơ bản, đảm bảo hiệu quả cao nhất trong thực hiện chức năng chia sẻ rủi ro của BHYT. Song, con đường hướng đến "đích" BHYT toàn dân vào năm 2014 còn nhiều thử thách, cam go.
Lưu Quang Tuấn
