Theo dự thảo Biểu khung thuế bảo vệ môi trường (BVMT) do Bộ Tài chính vừa đưa ra, mức thuế cao nhất được áp dụng cho túi nilon thuộc diện chịu thuế là 40.000 đồng/kg, nhằm làm tăng giá bán túi nilon, hạn chế việc phát miễn phí túi nilon, góp phần thay đổi thói quen sử dụng túi nilon của người tiêu dùng, giảm thiểu tác hại đến môi trường.
Túi nilon xuất hiện cách đây khoảng 150 năm- do nhà hóa học Anh Alexander Parkes phát minh. Sự ra đời của túi nilon đã mang lại nhiều tiện lợi, nhất là trong việc bao gói hàng hóa. Song hiện nay, túi nilon đang là một "thảm họa" với môi trường và nhiều quốc gia đang tìm mọi cách để loại bỏ.
Theo tính toán, vứt bỏ một túi nilon chỉ tốn 1 giây, nhưng nếu không có sự tác động bởi nhiệt độ cao của ánh sáng mặt trời thì phải mất từ 500 năm đến 1.000 năm mới có thể phân hủy được. Ước tính, mỗi năm nhân loại sử dụng khoảng 500- 1.000 tỷ túi nhựa. Khi thải ra môi trường dưới tác động của ánh sáng, túi nilon vỡ ra thành nhiều phân tử nhựa nhỏ hơn, độc hại hơn và cuối cùng gây ô nhiễm cho đất và nguồn nước. Chúng có thể len lỏi vào thức ăn của động vật và con người... Vì thế, túi nilon đang bị coi là một trong những "thủ phạm" nguy hiểm gây ô nhiễm môi trường.
Tại Việt
Ở Việt
Chúng ta đã có rất nhiều đợt tuyên truyền "nói không với túi nilon", song tuyên truyền rồi lại rơi vào quên lãng, người dân vẫn thờ ơ.
Các chuyên gia cho rằng, giải quyết vấn nạn túi nilon làm ô nhiễm môi trường không nên làm hời hợt, kiểu "phong trào". Điều cần nhất chính là phải xây dựng những nhà máy sản xuất túi sinh thái để từng bước hạn chế, thay thế cơ sở làm túi nilon, đồng thời phải tạo cho người tiêu dùng có thói quen sử dụng túi tự hủy như một đồ dùng sinh hoạt, mua bằng giá trị, có tuổi thọ chứ không phải là rác. Nhà nước nên tạo điều kiện, đầu tư vốn với lãi suất ưu đãi cho doanh nghiệp sản xuất thử nghiệm túi nilong tự hủy với giá thành hợp lý...
Giải quyết vấn đề rác thải túi nilon bằng cách nghiên cứu, sản xuất túi nilon tự phân hủy, túi sinh thái (Eco-bag) là một giải pháp khả thi, dung hòa được lợi ích kinh tế và vệ sinh môi trường. Nhưng để nghiên cứu, áp dụng sản xuất đại trà, sản phẩm có giá cả chấp nhận được, Nhà nước cần có những chính sách cụ thể như ưu đãi thuế, cho vay vốn lãi suất thấp, hỗ trợ cho các cơ sở kinh doanh, đầu tư cho các nhà khoa học nghiên cứu. Và trước mắt, mỗi người tiêu dùng hãy tập thói quen hạn chế sử dụng túi nilon khi không thật cần thiết, góp phần hạn chế số lượng túi nilon thải ra môi trường hằng ngày. Và, việc tăng thuế đối với túi nilon cũng là một giải pháp cần thiết.
Thu Vân
