Có thể nói, thị trường tài chính- ngân hàng năm 2010 có quá nhiều biến động thất thường, tác động không nhỏ tới hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, các nhà đầu tư, ảnh hưởng đến đời sống xã hội, nền kinh tế chung.
Nóng, lạnh thất thường - Do đâu?
Năm 2010, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNNVN) đã phải hai lần điều chỉnh tỷ giá. Lần thứ nhất vào ngày 11/2, NHNNVN tăng tỷ giá thêm 3%, lên mức 18.544 VND/USD. Đến ngày 17/8, NHNNVN lại điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng lên 18.932 VND/USD (tăng gần 2,1%), biên độ tỷ giá vẫn giữ nguyên +/-3%.

Cũng từ thời điểm này, giá USD trên thị trường tự do bắt đầu đà tăng không phanh. Vào các tháng cuối năm 2010, người người, nhà nhà rút tiền mua vàng, USD tích trữ vì lo ngại VND mất giá, khiến một lượng tiền nhàn rỗi trong dân cư không được lưu thông qua hệ thống ngân hàng hay đầu tư vào sản xuất kinh doanh. Có thời điểm, các nhà đầu tư còn xôn xao tin đồn tỷ giá có thể lên tới 23.000 VND/USD do một số nhận định từ một vài tổ chức nước ngoài.
Đánh giá của NHNNVN cũng cho thấy, từ tháng 10 đến nay, thị trường ngoại tệ và tỷ giá có diễn biến phức tạp, tỷ giá mua, bán thực tế của doanh nghiệp biến động theo tỷ giá trên thị trường tự do (thường thì tỷ giá trên thị trường tự do cao hơn tỷ giá của các ngân hàng khoảng 1.500 đồng).
Tỷ giá tăng cũng do lạm phát cao, cán cân thanh toán tiếp tục bị thâm hụt, giá vàng thế giới tăng đột biết từ giữa tháng 9/2010, tình trạng găm giữ ngoại tệ và "đô la hóa" trong nền kinh tế chưa giảm, kéo theo căng thẳng cung- cầu ngoại tệ, làm giá VND.
Tuy nhiên, với những biện pháp can thiệp tích cực và hiệu quả của NHNNVN như: can thiệp mua, bán ngoại tệ ở mức hợp lý để điều tiết cung- cầu ngoại tệ, tăng tính thanh khoản cho thị trường; hỗ trợ ngoại tệ cho nhu cầu nhập khẩu các mặt hàng thiết yếu phục vụ sản xuất trong nước; cho phép nhập khẩu vàng trở lại... đã khiến giá kim loại quý giảm dần, kéo theo giá USD trên thị trường tự do cũng hạ nhiệt và dao động quanh mức dưới 21.000 VND/USD.
Nhưng đến cuối năm, thị trường tài chính, ngân hàng lại bị cuốn vào một cơn nóng lạnh mới mang tên "lãi suất".
10 tháng đầu năm, lãi suất huy động và cho vay của các tổ chức tín dụng ổn định và giảm dần, đến cuối tháng 10, lãi suất huy động VND bình quân 10,44%/năm, cho vay 13,18%/năm. Từ đầu tháng 11, lãi suất huy động và cho vay nhích lên một chút tăng khoảng 1,5%/năm, huy động và cho vay vốn tiếp tục tăng, bảo đảm khả năng thanh toán.
Tuy nhiên, từ ngày 7 đến 10/12, lãi suất huy động VND tăng đột biến lên 17- 18%. Nguyên nhân là do Techcombank huy động tiết kiệm "3 ngày vàng" với lãi suất 17%, tăng 3% so với lãi suất của các tổ chức tín dụng khác, đã tác động làm tăng đột biến lãi suất trên thị trường tiền tệ và làm dịch chuyển mạnh tiền gửi giữa các tổ chức tín dụng.
Để ổn định thị trường tiền tệ, NHNNVN đã yêu cầu Techcombank ngừng huy động tiết kiệm "3 ngày vàng" và chỉ đạo các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất huy động vốn bằng VND không vượt quá 14%/năm kể từ ngày 15/12/2010. Bên cạnh đó, NHNNVN cũng tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện mức "trần" lãi suất. Một sự kiện đáng chú ý liên quan tới điều hành lãi suất: Lần đầu tiên NHNNVN "dọa" kỷ luật và cách chức lãnh đạo ngân hàng nào "đẩy" lãi suất phá rào.
Tại phiên họp với Ủy ban Kinh tế Quốc hội ngày 25/12, Thống đốc NHNNVN Nguyễn Văn Giàu cho biết, nguyên nhân tăng lãi suất 2 tháng cuối năm là: Chỉ số giá tiêu dùng tăng ở mức cao và kinh tế vĩ mô chưa ổn định, ảnh hưởng đến huy động vốn của tổ chức tín dụng và thị trường ngoại tệ; cung vốn của tổ chức tín dụng bị thu hẹp, một số tổ chức tín dụng có biểu hiện gặp khó khăn về thanh khoản, do chu kỳ kinh doanh vào những tháng cuối năm và dịp Tết Nguyên đán, nhu cầu thanh khoản để chi trả tiền gửi của các tổ chức và dân cư tăng lên ở mức cao, huy động vốn tăng chậm, tín dụng tăng cao hơn để giải ngân cho các hợp đồng đã ký kết.
Bên cạnh đó, một số tổ chức tín dụng chưa thực hiện đúng các tỷ lệ về an toàn kinh doanh theo quy định của NHNNVN, bị rủi ro về kỳ hạn giữa cho vay và huy động vốn. Thị trường tiền tệ có biểu hiện chưa ổn định, tính liên kết và tương trợ trong hệ thống còn hạn chế, tình trạng cạnh tranh không lành mạnh và thiếu minh bạch khá phổ biến, làm cho khách hàng gửi tiền, thiếu lòng tin, mặc cả về lãi suất.
Ngoài ra, thị trường tiền tệ liên thông với thị trường chứng khoán, bất động sản, ngoại hối nhưng các thị trường này chưa ổn định, có nhiều hiện tượng đầu cơ, ảnh hưởng đến cung- cầu vốn và lãi suất.
Năm 2011 - Thách thức lớn
TS. Cao Sỹ Kiêm cho rằng, giải pháp để ổn định thị trường tiền tệ năm 2011 cần phải có sự hợp sức của nhiều bộ, ngành.
Trước hết là phải có các giải pháp kiềm chế lạm phát ở mức thấp ngay từ những tháng đầu năm để phấn đấu đạt mục tiêu lạm phát cả năm không quá 7% theo Nghị quyết Quốc hội đề ra. Đây là điều kiện cơ bản để ổn định và giảm dần lãi suất thị trường.
NHNNVN cũng cho biết sẽ tiếp tục ấn định lãi suất huy động vốn theo mức "trần" 14%/năm và giảm dần theo xu hướng lạm phát; điều hành linh hoạt các mức lãi suất chính sách của NHNNVN.
Đối với tỷ giá, TS Lê Xuân Nghĩa đề nghị, thời gian tới, cần gắn đồng bộ giữa việc điều chỉnh và can thiệp để kéo chênh lệch tỷ giá VND/USD giữa thị trường tự do và chính thức xuống. Theo đó, phải sử dụng tích cực công cụ dự trữ bắt buộc. Yêu cầu dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ phải cao hơn dự trữ bắt buộc bằng VND. Đồng thời, phải tạo ra sự chênh lệch hợp lý giữa lãi suất VND và ngoại tệ. Từ đó, buộc các NHTM phải hạ lãi suất tiền gửi ngoại tệ và tăng lãi suất cho vay ngoại tệ, để hạn chế cho vay ngoại tệ. Điều này sẽ làm cho doanh nghiệp ít quan tâm hơn đến vay ngoại tệ và làm người dân ít quan tâm đến gửi ngoại tệ, chuyển sang dùng VND.
Ngoài ra, cần tính toán cẩn thận mức độ điều chỉnh tỷ giá. Một khi đã điều chỉnh rồi thì phải can thiệp một cách mạnh mẽ để cho người dân thấy Chính phủ nói là làm, tuyên bố ổn định là ổn định được. Còn can thiệp nửa vời sẽ làm tỷ giá trong- ngoài ngày càng tăng, người dân chắc chắn còn hoang mang hơn.
Thống đốc Nguyễn Văn Giàu cũng nhấn mạnh, sẽ kiểm soát chặt chẽ thị trường ngoại tệ, tiếp tục thực hiện các giải pháp để tăng cung ngoại tệ, giảm cầu ngoại tệ như trong năm 2010, đi đôi với chống đầu cơ và găm giữ ngoại tệ.
Minh Thuý
